Sáng 16/05, Đoàn công tác lãnh đạo xã Yên Thành (Nghệ An) và Hội đồng hương xã Yên Thành Khu vực phía Nam đã đến Nghĩa trang Liệt sĩ TP.HCM dâng hương, dâng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ.
Tại Nghĩa trang Liệt sĩ TPHCM, Đoàn đại biểu Đảng ủy – HĐND – UBND – Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Yên Thành do bà Trần Thị Bình, Tỉnh Ủy viên, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Yên Thành, dẫn đầu đã đến dâng hương và đặt vòng hoa viếng mộ các Anh hùng liệt sĩ.
Tại lễ viếng, các đại biểu đã dành phút mặc niệm, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các Anh hùng liệt sĩ, những người con ưu tú của dân tộc đã không tiếc máu xương, dũng cảm chiến đấu, hy sinh quên mình vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Đặc biệt, Đoàn đại biểu đã viếng hai Anh hùng Liệt sĩ Phan Đăng Lưu và Nguyễn Kiệm là những người con ưu tú của xã Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

Anh hùng Liệt sĩ Phan Đăng Lưu – Nhà trí thức cách mạng kiên trung
Phan Đăng Lưu là một nhà cách mạng tiền bối xuất sắc, người con ưu tú của quê hương Nghệ An. Ông sinh ngày 5/5/1902 tại thôn Đông, xã Tràng Thành (nay là xã Yên Thành, tỉnh Nghệ An). Cuộc đời ông là một bản anh hùng ca về tinh thần học tập, sự tận hiến cho dân tộc và khí tiết bất khuất của một người cộng sản.
Được đào tạo bài bản và sớm tiếp thu tư tưởng tiến bộ, Phan Đăng Lưu được mệnh danh là một “trí thức cách mạng tiêu biểu”. Ông bắt đầu dấn thân vào con đường cứu nước từ những năm 1920. Với trí tuệ uyên bác và khả năng tổ chức thiên bẩm, ông nhanh chóng trở thành một trong những linh hồn của phong trào cách mạng tại miền Trung.
Trong giai đoạn đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ (1936-1939), ông giữ nhiều trọng trách quan trọng: Ủy viên Xứ ủy Trung Kỳ (1936), Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Trung Kỳ (từ 3/1937). Tại Hội nghị Trung ương tháng 9/1937, ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và từ năm 1938 đến 1940, ông giữ cương vị Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng. Ông là người có công lớn trong việc chỉ đạo phong trào đấu tranh công khai, sử dụng báo chí làm vũ khí sắc bén để tuyên truyền và tập hợp quần chúng.

Tháng 11 năm 1940, sau khi dự Hội nghị Trung ương lần thứ 7 tại Bắc Ninh, Phan Đăng Lưu được giao nhiệm vụ quan trọng là vào Nam Kỳ để truyền đạt chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa do điều kiện chưa chín muồi. Tuy nhiên, ngay khi vừa đặt chân đến Sài Gòn, ông đã bị thực dân Pháp bắt giữ.
Mặc dù chịu nhiều cực hình tra tấn dã man trong ngục tù, Phan Đăng Lưu vẫn giữ vững lòng trung thành tuyệt đối với Đảng và nhân dân. Ngày 26/8/1941, thực dân Pháp đã đưa ông đi hành quyết tại trường bắn Ngã Ba Giồng, Hóc Môn, Gia Định. Ông ngã xuống trước mũi súng quân thù cùng với những đồng chí lãnh đạo kiệt xuất khác như Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ khi mới 39 tuổi.
Sự hy sinh của Phan Đăng Lưu là một tổn thất vô cùng lớn lao đối với cách mạng Việt Nam. Ông để lại di sản quý báu về tư duy chiến lược, ngòi bút chiến đấu sắc sảo và tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng. Tên tuổi của ông mãi mãi gắn liền với lịch sử vẻ vang của Đảng và dân tộc, là niềm tự hào của các thế hệ hôm nay và mai sau.

Nguyễn Kiệm niềm tự hào quê hương
Anh hùng Liệt sĩ Nguyễn Kiệm sinh năm 1916, tại xóm Hóp, làng Công Trung, tổng Quan Hóa, huyện Đông Thành (nay là xã Yên Thành, tỉnh Nghệ An). Ông tham gia phong trào đấu tranh dân chủ khi mới 15 tuổi. Ông là một chiến sĩ cách mạng kiên trung, người chỉ huy mưu lược của lực lượng vũ trang Sài Gòn – Gia Định trong kháng chiến chống Pháp.
Xuất thân từ dòng họ Nguyễn Duy giàu truyền thống yêu nước tại Nghệ An, Nguyễn Kiệm sớm dấn thân vào con đường cách mạng. Để thuận tiện cho việc hoạt động bí mật trong lòng địch tại Sài Gòn – Gia Định, ông đã sử dụng căn cước mang tên Nguyễn Liễu (tên người con trai của ông) và khai sinh năm 1912. Đây cũng là lý do vì sao trong các hồ sơ liệt sĩ và Huân chương Hồ Chí Minh sau này đều ghi thống nhất năm sinh của ông là 1912.

Với bí danh Nguyễn Liễu, ông đã thâm nhập sâu vào các tầng lớp xã hội tại đô thị Sài Gòn, xây dựng mạng lưới cơ sở kháng chiến vững chắc. Ông từng đảm nhiệm chức vụ Trưởng ban Ám sát (tiền thân của lực lượng Biệt động Sài Gòn), trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh táo bạo tiêu diệt những tên trùm mật thám và tay sai đắc lực của thực dân Pháp.
Năm 1948, với tài năng quân sự và uy tín lớn, ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng Đặc khu Sài Gòn – Chợ Lớn. Dưới sự lãnh đạo của ông, phong trào đấu tranh của nhân dân nội đô phát triển mạnh mẽ, khiến kẻ thù luôn sống trong sự bất an ngay tại sào huyệt của chúng. Ông không chỉ giỏi tác chiến mà còn là một cán bộ dân vận mẫu mực, được nhân dân tin yêu, đùm bọc.
Tháng 3 năm 1951, trong một chuyến công tác tại khu vực ven sông Đồng Nai, Nguyễn Kiệm cùng đồng đội rơi vào trận địa phục kích của địch. Để bảo vệ lực lượng, ông đã dũng cảm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Sự hy sinh của ông ở tuổi 35 (theo tuổi thật) là một mất mát to lớn đối với cách mạng miền Nam.
Ghi nhận những cống hiến đặc biệt xuất sắc, Nhà nước đã truy tặng ông danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân và Huân chương Hồ Chí Minh. Cuộc đời của Nguyễn Kiệm – từ một người con xứ Nghệ đến người anh hùng của Sài Gòn – mãi là minh chứng cho tinh thần đoàn kết Bắc – Nam và lòng yêu nước bất diệt của dân tộc Việt Nam. Tên ông ngày nay được trân trọng đặt cho nhiều con đường lớn, nhắc nhở thế hệ mai sau về một tấm gương hy sinh quên mình vì độc lập, tự do.






















































